Như thế nào là sự thanh tịnh - theo Đức Phật Gotama dạy?

Sự Thanh tịnh (trong sạch) của chúng ta ở mức bao nhiêu thì trí tuệ của chúng ta ở mức bấy nhiêu. Và mức cao nhất là đạt được quả vị A la hán.

Ngày đăng: 11-01-2021

211 lượt xem

Sự Thanh tịnh chính là trí tuệ

Ở cuối bài kinh Đại Niệm Xứ ([Trường Bộ kinh, bài kinh 22. KINH ĐẠI NIỆM XỨ (Mahàsatipatthana sutta)]), bài kinh Đức Phật Gotama dạy thực hành Thiền Vipassana, Đức Phật có nói về thanh tịnh (trong sạch) như sau:

“Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến sự thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh lý, chứng ngộ Niết Bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.”

Theo như câu nói này thì Đức Phật đã cho biết đạt tới thanh tịnh chính là đạt tới đích cao nhất của trí tuệ, vì đã “vượt khỏi sầu, bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh lý…”.

Như vậy, để đo lường mức độ trí tuệ của chúng ta thì chúng ta có thể sử dụng thước đo thanh tịnh. Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu coi Đức Phật nói như thế nào là thanh tịnh nha.

 

Các cấp độ của sự Thanh tịnh?

Trong [Trung Bộ kinh, bài kinh 24. KINH TRẠM XE (Rathavinìta sutta)], Ngài Sariputta, bậc A la hán, đại đệ tử của Đức Phật Gotama cho chúng ta biết có tới 7 cấp độ thanh tịnh qua đoạn trích sau đây:

“.......

- Cũng vậy, này Hiền giả, giới thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) kiến thanh tịnh; kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đoạn nghi thanh tịnh; đoạn nghi thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh; đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo tri kiến thanh tịnh; đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tri kiến thanh tịnh; tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) vô thủ trước Bát-niết-bàn. Này Hiền giả, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn là với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn.

Khi được nói vậy, Tôn giả Sariputta nói với Tôn giả Punna Mantaniputta:

- Tôn giả tên là gì? Và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?

- Hiền giả, tên tôi là Punna và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Mantaniputta.

- Thật hy hữu thay, Hiền giả! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một bởi một đệ tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Ðạo Sư, và vị đệ tử ấy là Tôn giả Punna Mantaniputta. Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Punna Mantaniputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Punna Mantaniputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, để được thân cận, thì thật là hạnh phúc cho các vị ấy, thật là chơn hạnh phúc cho các vị ấy! Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Punna Mantaniputta!”

Nhưng cho dù là có tới 7 cấp độ thanh tịnh như trên, nhưng chỉ với những người đã đạt tới mức trí tuệ rất cao thì mới cần biết, phân biệt rõ các cấp độ này để biết chính xác cách tu tập, thực hành tiếp theo. Còn với chúng ta, những người trên trái đất ngày hôm nay, cho dù chỉ so sánh với cấp độ thấp nhất của sự Thanh Tịnh là Giới Thanh Tịnh thì chúng ta vẫn còn ở mức độ thấp rất xa, cho nên hiện tại chúng ta nên quan tâm chung tới tất cả mọi sự thanh tịnh, cái nào có thể học và thực hành được thì cứ học và thực hành trước, còn cái nào chưa thể hiểu được hay chưa thể thực hành được ngay hiện tại thì cứ để đó, rồi sẽ quay lại học và thực hành sau.

 

Như thế nào là sự Thanh tịnh?

Thanh tịnh (trong sạch) là sự không bị cấu uế (dơ bẩn). Như vậy, sau khi chúng ta đã loại bỏ hết các sự cấu uế đi thì chúng ta sẽ đạt được sự thanh tịnh. Loại bỏ được các cấu uế tới mức độ nào thì chúng ta sẽ đạt được sự Thanh tịnh tới mức độ đó.

Để minh họa cho sự Thanh tịnh, trong [Trung Bộ kinh, bài kinh 7. KINH VÍ DỤ TẤM VẢI (Vatthùpama sutta)], Đức Phật có 1 ví dụ trong trích đoạn sau:

“-- Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế. ”

 

Như thế nào là sự cấu uế (dơ bẩn)?

Vẫn trong [Trung Bộ kinh, bài kinh 7. KINH VÍ DỤ TẤM VẢI (Vatthùpama sutta)], Đức Phật cho biết các cấu uế trong trích đoạn sau:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.”

(Giải thích nghĩa của các cấu uế trên: Tham dục = Lòng tham, tà tham = lòng tham bất chính, sân = ác ý, phẫn = tức giận, hận = thù địch, hư ngụy = gièm pha, não hại = độc đoán/đàn áp/cưỡng ép, tật đố = đố kỵ, xan tham = ghen tị, man trá = đạo đức giả, khi cuống = lừa đảo, ngoan cố = cố chấp, cấp tháo = định kiến/thiên kiến, quá mạn = tự phụ, kiêu = kiêu ngạo, phóng dật = buông thả)

 

Trong [Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh CHƯƠNG VIII – TÁM PHÁP, (V) (15) Các Cấu Uế], Đức Phật cho biết thêm các cấu uế trong trích đoạn sau:

“1. - Này các Tỷ-kheo, có tám tâm cấu uế này, thế nào là tám?

2. Này các Tỷ-kheo, không đọc tụng là cấu uế của Thánh điển; này các Tỷ-kheo, không thức dậy là cấu uế của nhà; này các Tỷ-kheo, biếng nhác là cấu uế của dung sắc; này các Tỷ-kheo, phóng dật là cấu uế của phòng hộ; này các Tỷ-kheo, ác hạnh là cấu uế của đàn bà; này các Tỷ-kheo, xan tham là cấu uế của bố thí; các pháp ác, bất thiện, là cấu uế của đời này và đời sau. Nhưng này các Tỷ-kheo, còn có cấu uế lớn hơn các cấu uế. Vô minh là cấu uế lớn nhất.

Này các Tỷ-kheo, đây là tám loại cấu uế.

Không tụng làm nhớp kinh
Không dậy làm nhớp nhà
Biếng nhác làm nhớp dung sắc
Phóng dật làm nhớp phòng hộ
Ác hạnh nhớp mỹ nhân
Xan tham nhớp bố thí
Các pháp ác làm nhớp
Ðời này và đời sau
Nhưng có loại cấu uế
Hơn tất cả cấu uế
Ðấy chính là vô minh
Là cấu uế lớn nhất.”

Trong [Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh CHƯƠNG V – NĂM PHÁP, (V) (175) Kẻ Bị Vất Bỏ], Đức Phật cho biết thêm các cấu uế trong trích đoạn sau:

“1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ. Thế nào là năm?

Không tin; ác giới; đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt; tin tưởng điềm lành; không tin hành động; tìm kiếm ngoài (Tăng chúng) người xứng đáng tôn trọng và tại đấy phục vụ trước.

Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ.”

Trong [Tương Ưng Bộ kinh, bài kinh TẬP V – THIÊN ĐẠI PHẨM, CHƯƠNG II (A): TƯƠNG ƯNG GIÁC CHI, 33.III. Cấu Uế (1)], Đức Phật cho biết thêm những cấu uế trong trích đoạn sau:

“2) -- Này các Tỷ-kheo có năm cấu uế này đối với vàng. Do những cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn (pabhangu), và không chân chánh chịu sử dụng.

3) Sắt, này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn (pabhangu), và không chân chánh chịu sử dụng.

4) Ðồng (loham), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn (pabhangu), và không chân chánh chịu sử dụng.

5) Thiếc (tipu), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn (pabhangu), và không chân chánh chịu sử dụng.

6) Chì (siisam), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn (pabhangu), và không chân chánh chịu sử dụng.

7) Bạc (sajjhum), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của vàng. Do cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh chịu sử dụng.

8) Chính cấu uế của vàng, này các Tỷ-kheo, do những cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh chịu sử dụng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có năm cấu uế này của tâm, chính những cấu uế ấy khiến tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?

9) Dục tham (kàmachanda), này các Tỷ-kheo, là cấu uế của tâm. Do cấu uế ấy, tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc.

10) Sân, này các Tỷ-kheo, là cấu uế của tâm. Do cấu uế ấy, tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc.

11) Hôn trầm thụy miên, này các Tỷ-kheo, là cấu uế của tâm. Do cấu uế ấy, tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc.

12) Trạo hối, này các Tỷ-kheo, là cấu uế của tâm. Do cấu uế ấy, tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc.

13) Nghi, này các Tỷ-kheo, là cấu uế của tâm. Do cấu uế ấy, tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc.

14) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm cấu uế của tâm. Chính do những cấu uế ấy, tâm không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc.”

(Giải thích nghĩa của các cấu uế trên: Dục Tham = Lòng tham, Sân = ác ý, Hôn trầm thụy miên = lười biếng, buồn ngủ, Trạo hối = bồn chồn, bất an, Nghi = nghi ngờ, không tin tưởng)

 

Tới đây thì chúng ta đã biết như thế nào là Thanh tịnh, còn làm sao để đạt được sự Thanh tịnh thì hãy xem thêm: "Làm sao để đạt được sự thanh tịnh - theo Đức Phật Gotama dạy"

 

~~oOo~~

Tài liệu dẫn chứng:

- Bộ kinh Nikaya, nhưng trong đó chỉ lấy những bài kinh đã được 500 vị A la hán đại đệ tử trực tiếp của Đức Phật Gotama (Thích Ca Mâu Ni) tập kết xác nhận trong lần kết tập thứ nhất ở thời điểm 3 tháng sau ngày Đức Phật Gotama qua đời. Các bài kinh này gồm tất cả các bài kinh thuộc 4 bộ: Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh và Tương Ưng Bộ kinh, riêng Tiểu Bộ kinh thì chỉ có Tiểu Bộ 1. Còn những bài kinh khác thuộc Tiểu Bộ kinh, do được thêm vào ở những khoảng thời gian rất lâu sau thời Đức Phật Gotama, nên chỉ có giá trị tham khảo. Bộ kinh Nikaya hiện nay được lưu truyền bởi chi phái Phật Giáo Nguyên Thủy (Nam Truyền, Nam Tông).

 

Phạm Nguyễn Anh Kiệt
~Sự Kỳ Diệu~

 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha