Như thế nào là Nghiệp? - theo Đức Phật Gotama dạy

Chúng ta sẽ đi vào cụ thể từng lời dạy của Đức Phật Gotama để hiểu rõ nghiệp là gì, và cách thức để làm chủ nghiệp của chúng ta.

Ngày đăng: 18-01-2021

207 lượt xem

Nội dung của bài viết này gồm 3 phần sau:

1. Nghiệp nên được hiểu như thế nào?

2. Đức Phật Gotama dạy về nghiệp cụ thể như thế nào?

3. Đức Phật dạy cách đoạn diệt nghiệp

 

1. Nghiệp nên được hiểu như thế nào?

Theo những lời dạy (Pháp) của Đức Phật Gotama (Thích Ca Mâu Ni) trong bộ kinh Nikaya khi nói về nghiệp thì chúng ta có thể hình dung chung chung như sau:

“Nghiệp là một hành động (hoặc 1 chuỗi hành động) mà chúng ta đã thực hiện trong quá khứ, và nó đã gây ra một (hoặc nhiều) kết quả tác động cho những người khác (những vật khác, hoặc bao gồm luôn cả chính bản thân chúng ta). Như vậy, nghiệp được hiểu là bao gồm cả 2 phần: các hành động mà chúng ta đã thực hiện, và kết quả tác động được tạo ra từ chính các hành động đó.

Bởi vì nghiệp này, mà sau 1 khoảng thời gian sau khi thực hiện, chúng ta sẽ bị buộc phải lãnh nhận một (hoặc nhiều) kết quả hồi đáp. Kết quả hồi đáp này có thể là tốt, có thể là xấu, có thể là có lợi, hoặc có thể là gây hại, tùy thuộc vào hành động và kết quả tác động mà chúng ta đã thực hiện.

Các kết quả hồi đáp mà chúng ta phải lãnh nhận từ nghiệp này có thể tới sớm, có thể tới trễ, có thể tới trong cuộc đời hiện tại, hoặc có thể tới ở các đời sau của chúng ta.

Đức Phật chia nghiệp làm 3 loại: thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Trong đó ý nghiệp là quan trọng nhất, đem lại lợi ích lớn nhất hoặc hậu quả nặng nề nhất.

Đức Phật cũng cho biết, tuy nghiệp đã được tạo ra, nhưng chúng ta có thể diệt trừ, đoạn diệt nó, hoặc làm giảm thiểu các hậu quả có hại của nó.”

 

Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu coi Đức Phật dạy về nghiệp cụ thể như thế nào trong bộ kinh Nikaya.

 

2. Đức Phật Gotama dạy về nghiệp cụ thể như thế nào?

Bài kinh Tiểu kinh Nghiệp phân biệt [Trung Bộ kinh, bài kinh 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt]: Các câu hỏi về nghiệp được đặt ra ở phần đầu bài kinh (được trích đoạn bên dưới), và Đức Phật Gotama dành toàn bộ bài kinh này để trả lời. Vì bài kinh này khá dài, nên sẽ rất bất tiện nếu copy toàn bộ nội dung vô trong bài viết này. Do đó, chúng ta nên đọc trực tiếp nội dung bài kinh tại bất cứ đâu có lưu giữ bộ kinh Nikaya, hoặc đọc ở đây (135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)

“Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi thấy có người đoản thọ, có người trường thọ; chúng tôi thấy có người nhiều bệnh, có người ít bệnh; chúng tôi thấy có người xấu sắc, có người đẹp sắc; chúng tôi thấy có người quyền thế nhỏ, có người quyền thế lớn; chúng tôi thấy có người tài sản nhỏ, có người tài sản lớn; chúng tôi thấy có người thuộc gia đình hạ liệt, có người thuộc gia đình cao quý; chúng tôi thấy có người trí tuệ yếu kém, có người có đầy đủ trí tuệ.

Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?

-- Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu.

……………………..

……………………..

……………………..”

Bài kinh Đại kinh Nghiệp phân biệt [Trung Bộ kinh, bài kinh 136. Đại kinh Nghiệp phân biệt]: cho biết: Tuy làm ác nghiệp, nhưng vẫn có thể có 2 kết quả xảy ra khác nhau sau khi thân hoại mạng chung: (1) “người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”, hoặc (2) “người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”. Trong khi đó, đối với những người làm thiện nghiệp, cũng vẫn có thể xảy ra 1 trong 2 kết quả khác nhau tương tự như vậy sau khi thân hoại mạng chung: (1) “người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”, hoặc (2) “người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”. Đồng thời, Đức Phật cũng giải thích lý do tại sao lại có kết quả kỳ lạ như vậy.

Bên cạnh đó, ở cuối bài kinh, Đức Phật cũng cho biết: kết quả của nghiệp không phải chỉ xảy ra ở đời sau, mà nó vẫn xảy ra ngay trong đời này qua câu “người ấy phải lãnh thọ quả báo được khởi lên ngay hiện tại hay trong một đời khác.

Bài kinh này khá dài, trong đó hầu hết nội dung dùng để nói về nghiệp, chỉ có 1 phần đầu (cũng hơi dài) dùng để thể hiện ngữ cảnh dẫn tới lý do Đức Phật dạy bài kinh này. Chúng ta hãy đọc bài kinh này ở bất cứ đâu có lưu giữ bộ kinh Nikaya, hoặc đọc ở đây (136. Đại kinh Nghiệp phân biệt).

Đoạn trích bên dưới của bài kinh cho biết phần bắt đầu và phần chốt của phần giảng riêng về nghiệp của Đức Phật.

“Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Này Ananda, có bốn loại người này có mặt ở đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này Ananda, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham dục, có sân tâm, có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Nhưng ở đây, này Ananda, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham dục, có sân tâm, có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

Ở đây, này Ananda, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham dục, từ bỏ sân tâm, có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

Nhưng ở đây, này Ananda, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham dục, từ bỏ sân tâm, có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

………………………

………………………

………………………

Ở đây, này Ananda, người nào từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục... Hoặc là một ác nghiệp đưa đến cảm giác khổ thọ do người ấy làm từ trước, hay một ác nghiệp đưa đến cảm giác khổ thọ do người ấy làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một tà kiến được người ấy chấp nhận và chấp chặt. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Và ai ở đây từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến, người ấy phải lãnh thọ quả báo được khởi lên ngay hiện tại hay trong một đời khác.

Như vậy, này Ananda, có nghiệp vô hữu tợ vô hữu, có nghiệp vô hữu tợ hữu, có nghiệp hữu tợ hữu, có nghiệp hữu tợ vô hữu.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.”

Một phần nội dung bài kinh [Tăng Chi Bộ Kinh, CHƯƠNG II – HAI PHÁP, I. Phẩm Hình Phạt, 1-10 Hai Loại Tội]: cho biết nghiệp có thể tạo ra kết quả ngay trong đời này hoặc đời sau. Bên cạnh đó, cũng cho biết nghiệp không phải là những gì bí hiểm, mà nó vẫn rất rõ ràng và chúng ta có thể thấy trước được, đoán trước được.

“1.- Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng lâm, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: - Này các Tỷ-kheo. - Bạch Thế Tôn. Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

- Có hai loại tội này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Tội có kết quả ngay trong hiện tại, và tội có kết quả trong đời sau. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội có kết quả ngay trong hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thấy vua chúa bắt được người ăn trộm, kẻ vô loại, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi. Họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đầu hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt La-hầu khẩu hình ... hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa) ... đốt tay ... khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt) ... bì y hình (lấy vỏ cây làm áo) ... linh dương hình (hình phạt con dê núi) ... câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt) ... tiền hình (cắt thịt thành đồng tiền) ... khối chắp hình ... chuyển hình ... cao đạp đài ... Họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu.
Người thấy vậy suy nghĩ như sau: "Do nhân các ác nghiệp như vậy, vua chúa bắt được kẽ ăn trộm, kẻ vô loại, áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi ... họ lấy gươm chặt đầu. Nếu ta làm các ác nghiệp như vậy, vua sẽ bắt ta và áp dụng các hình phạt như vậy". Người ấy sợ hãi tội phạm ngay trong hiện tại, không có cướp phá tài sản của những người khác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tội có kết quả ngay trong hiện tại.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội có kết quả trong đời sau? Ở đây, có người suy xét như sau: "Quả dị thục của thân làm ác trong đời sau là ác và khổ. Quả dị thục của miệng nói ác trong đời sau là ác và khổ. Quả dị thục của ý nghĩ ác trong đời sau là ác và khổ. Nếu thân ta làm ác, nói lời ác, nghĩ việc ác, sao ta lại không có thể, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục". Người ấy sợ hãi tội có kết quả trong đời sau, từ bỏ thân làm ác, tu tập thân làm thiện, từ bỏ miệng nói ác, tu tập miệng nói thiện, từ bỏ ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ thiện, và cư xử tự ngã hoàn toàn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tội có kết quả trong đời sau.

Này các Tỷ-kheo, trên đây là hai loại tội. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: "Chúng ta phải sợ hãi đối với tội có kết quả hiện tại. Chúng ta phải sợ hãi đối với tội có kết quả trong đời sau. Chúng ta phải tránh xa các tội. Chúng ta phải thấy rõ sự nguy hiểm của các tội". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Ðối với ai tránh xa các tội, này các Tỷ-kheo, đối với ai thấy rõ sự nguy hiểm của các tội, thời được chờ đợi rằng người ấy sẽ được giải thoát tất cả tội.”

Trong bài kinh [Trung Bộ kinh, bài kinh 56. KINH ƯU-BA-LY (Upàli sutta)] Đức Phật cho biết trong thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, cái nào là quan trọng nhất, tạo ra nghiệp nặng nhất: đó chính là ý nghiệp. Bài kinh này cũng khá dài, và gần như toàn bộ bài kinh này chỉ tập trung thể hiện ý chính này thôi nên chúng ta có thể đọc nó ở bất cứ đâu có lưu giữ bộ kinh Nikaya, hoặc có thể đọc ở đây (56. Kinh Ưu-ba-ly (Upàli sutta)). Còn đoạn trích dưới đây chỉ để cho biết sự xác nhận của Đức Phật:

“.............................

-- Này Tapassi, Ta chủ trương có ba loại nghiệp để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.

-- Hiền giả Gotama, nhưng có phải thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác?

-- Này Tapassi, thân nghiệp khác, khẩu nghiệp khác, ý nghiệp khác.

-- Hiền giả Gotama, ba loại nghiệp này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Hiền giả chủ trương loại nghiệp nào tối trọng để tác thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp? Thân nghiệp chăng, khẩu nghiệp chăng, ý nghiệp chăng?

-- Này Tapassi, ba loại nghiệp này, được chia chẻ như vậy, được phân biệt như vậy, Ta chủ trương ý nghiệp là tối trọng, để tác thành ác ý, để diễn tiến ác nghiệp, thân nghiệp không bằng được, khẩu nghiệp không bằng được.

-- Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?

-- Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.

-- Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?

-- Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.

-- Hiền giả Gotama, có phải Hiền giả nói ý nghiệp?

-- Này Tapassi, Ta nói ý nghiệp.

…………………..

…………………..”

 

3. Đức Phật dạy cách đoạn diệt nghiệp

[Tương Ưng Bộ Kinh, TẬP IV – THIÊN SÁU XỨ, CHƯƠNG VIII: TƯƠNG ƯNG THÔN TRƯỞNG, VIII. Vỏ Ốc (S.iv,317), đoạn từ 9-15]: cho biết cách thức đoạn trừ từng ác nghiệp cụ thể bằng cách giữ giới. Chúng ta giữ được giới nào thì các ác nghiệp liên quan tới giới đó từ trong quá khứ sẽ được diệt trừ. Như vậy, qua đây cũng cho thấy, nếu trong tương lai, bất cứ khi nào chúng ta không giữ giới nữa (phạm giới) thì chúng ta lại tạo ra các ác nghiệp mới.

"11) Ở đây, này Thôn trưởng, Như Lai sanh ra ở đời, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn; Như Lai dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và nói: "Chớ có sát sanh"; chỉ trích, công kích lấy của không cho và nói: "Chớ có lấy của không cho"; chỉ trích, công kích sống theo tà hạnh trong các dục và nói: "Chớ có sống theo tà hạnh trong các dục"; chỉ trích, công kích nói láo và nói: "Chớ có nói láo". Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Ðạo Sư ấy. Vị ấy suy tư như sau:

12) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và nói: ”Chớ có sát sanh". Nay ta có sát hại như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên (sutthu), như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ”Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa”". Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ sát sanh. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ sát sanh. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.

13) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích lấy của không cho và nói: ”Chớ có lấy của không cho". Nay ta có lấy của không cho như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy, ta có thể hối hận: ”Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ lấy của không cho. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ lấy của không cho. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.

14) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sống theo tà hạnh trong các dục và nói: ”Chớ có sống theo tà hạnh trong các dục". Nay ta có sống theo tà hạnh trong các dục như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy, ta có thể hối hận: ”Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ sống theo tà hạnh trong các dục. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ sống theo tà hạnh trong các dục. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.

15) "Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích nói láo và nói: ”Chớ có nói láo". Nay ta có nói láo như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy, ta có thể hối hận: ”Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ nói láo. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ nói láo. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua."

Trong bài kinh [Tương Ưng Bộ kinh, TẬP IV – THIÊN SÁU XỨ, CHƯƠNG I (E): TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ, 145. I. Nghiệp (S.iv,132)] Đức Phật cho biết cách phân biệt nghiệp mới, nghiệp cũ & cách thức để đoạn trừ, diệt trừ nghiệp một cách hoàn toàn triệt để, và nghiệp không thể được khôi phục.

“1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về các nghiệp mới và cũ, sự đoạn diệt các nghiệp, con đường đưa đến sự đoạn diệt các nghiệp. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.

3) Này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp cũ?

Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Tai cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Mũi cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Lưỡi cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Thân cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ. Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ.

Các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp cũ.

4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp mới? Này các Tỷ-kheo, hiện tại phàm làm việc gì với thân, với lời nói, hay với ý. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp mới.

5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp đoạn diệt? Sự đoạn diệt thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp, nhờ vậy cảm thấy giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp đoạn diệt.

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt.

7) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã giảng cho các Ông nghiệp cũ, đã giảng nghiệp mới, đã giảng nghiệp đoạn diệt, đã giảng con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt.

8) Này các Tỷ-kheo, phàm những gì bậc Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương đệ tử, những việc ấy Ta đã làm cho các Ông, vì lòng thương tưởng các Ông.

9) Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.”

Trong [Tương Ưng Bộ Kinh, TẬP IV – THIÊN SÁU XỨ, CHƯƠNG VIII: TƯƠNG ƯNG THÔN TRƯỞNG, VIII. Vỏ Ốc (S.iv,317), đoạn từ 16-19]: cũng cho biết cách thức để diệt trừ nghiệp hoàn toàn: đó là diệt trừ ác giới và diệt trừ (đoạn tận) tham, sân, si. Cách diệt trừ Nghiệp ở đây cũng chính là cách đã được Đức Phật nói tới ở phần ngay phía trên, nhưng khác 1 chỗ: ở phần ngay phía trên thì Đức Phật nói về cách thức thực hiện như thế nào (đó là con đường Thánh đạo Tám ngành: tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định), còn ở phần này thì Đức Phật nói để diệt trừ Nghiệp hoàn toàn thì diệt trừ cái gì (đó là diệt trừ ác giới và diệt trừ tham, sân, si).

“16) Do đoạn tận sát sanh, người ấy trở thành người không sát sanh. Do đoạn tận lấy của không cho, người ấy trở thành người không lấy của không cho. Do đoạn tận sống theo tà hạnh trong các dục, người ấy trở thành người không sống theo tà hạnh trong các dục. Do đoạn tận nói láo, người ấy trở thành người từ bỏ nói láo. Do đoạn tận nói hai lưỡi, người ấy trở thành người từ bỏ nói hai lưỡi. Do đoạn tận nói lời độc ác, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời độc ác. Do đoạn tận lời nói phù phiếm, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời phù phiếm. Ðoạn tận tham, không có tham lam, đoạn tận sân, không có sân tâm, đoạn tận tà kiến, người ấy trở thành người theo chánh kiến. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử ấy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu với từ, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân.

17) Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và (bằng con ốc), với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập từ tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử ấy, như vậy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... với tâm câu hữu với xả, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.

18) Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và, với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập xả tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại.”

Đoạn trích sau đây trong [Trung Bộ Kinh, bài kinh 86. KINH ANGULIMÀLA (Angulimàla sutta)] cho thấy: khi thực hiện đoạn diệt Nghiệp, nhưng vì lý do nào đó Nghiệp chưa thể đoạn diệt được, mà hậu quả của nó vẫn xảy tới, thì tác động của Nghiệp đó được giảm thiểu đi 1 cách đáng kể:

“Rồi Tôn giả Angulimala buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Savatthi để khất thực. Lúc bấy giờ, một cục đất do một người ném, rơi trên thân Tôn giả Angulimala, rồi một cây gậy do một người khác quăng, rơi trên thân Tôn giả Angulimala, rồi một hòn sỏi do một người khác quăng, rơi trên thân Tôn giả Angulimala. Rồi Tôn giả Angulimala bị lỗ đầu, chảy máu, bình bát bị bể, ngoại y bị rách, đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy Tôn giả Angulimala từ xa đi đến, thấy vậy, liền nói với Tôn giả Angulimala: "Hãy kham nhẫn, này Bà-la-môn! Hãy kham nhẫn, này Bà-la-môn! Ông đang gặt hái ngay trong hiện tại quả báo của nghiệp mà đáng lẽ Ông phải chịu nấu sôi ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm".”

 

~~oOo~~

Tài liệu dẫn chứng:

- Bộ kinh Nikaya, nhưng trong đó chỉ lấy những bài kinh đã được 500 vị A la hán đại đệ tử trực tiếp của Đức Phật Gotama (Thích Ca Mâu Ni) tập kết xác nhận trong lần kết tập thứ nhất ở thời điểm 3 tháng sau ngày Đức Phật Gotama qua đời. Các bài kinh này gồm tất cả các bài kinh thuộc 4 bộ: Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh và Tương Ưng Bộ kinh, riêng Tiểu Bộ kinh thì chỉ có Tiểu Bộ 1. Còn những bài kinh khác thuộc Tiểu Bộ kinh, do được thêm vào ở những khoảng thời gian rất lâu sau thời Đức Phật Gotama, nên chỉ có giá trị tham khảo. Bộ kinh Nikaya hiện nay được lưu truyền bởi chi phái Phật Giáo Nguyên Thủy (Nam Truyền, Nam Tông).

 

 

Phạm Nguyễn Anh Kiệt
~Sự Kỳ Diệu~


 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha