Luận bàn để hiểu hơn về Nghiệp - được dạy bởi Đức Phật Gotama

Để hiểu rõ được Nghiệp được dạy bởi Đức Phật Gotama, chúng ta sẽ xem xét 3 phần liên quan là Hành - Nghiệp - Quả Báo. Khi đã hiểu rõ thì chúng ta có thể làm chủ cuộc sống của mình.

Ngày đăng: 25-03-2021

218 lượt xem

1. Đức Phật dạy về Nghiệp cụ thể như thế nào?

Phần này đã được nói rất kỹ trong bài viết “Như thế nào là Nghiệp? - theo Đức Phật Gotama dạy”. Để đọc và cảm nhận tốt được bài viết Luận bàn về Nghiệp thì chúng ta cần phải đọc kỹ bài viết này, nếu không có thể gây hiểu sai.

 

2. Chúng ta có phải thụ động cam chịu Quả Báo bất lợi do Nghiệp đem tới không?

Phần này đã được nói rất kỹ trong bài viết “Làm sao để ứng phó và làm chủ Nghiệp của mình? - theo Đức Phật Gotama dạy”. Để đọc và cảm nhận tốt được bài viết Luận bàn về Nghiệp thì chúng ta cần phải đọc kỹ bài viết này, nếu không có thể gây hiểu sai.

 

3. Tóm tắt ý chính về Nghiệp của Đức Phật Gotama (Thích Ca Mâu Ni):

Làm ác nghiệp thì sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, làm thiện nghiệp thì sinh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Tuy nhiên, làm ác nghiệp vẫn có thể sinh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này, làm thiện nghiệp vẫn có thể sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Nghiệp có thể phải lãnh nhận ngay tại đời này hoặc đời sau.

Cùng sinh vào 1 cõi, nhưng lợi ích nhận được của những người khác nhau vẫn có sự khác nhau như: người giàu kẻ nghèo, người đẹp kẻ xấu, người cao sang kẻ hạ liệt, người quyền thế cao người quyền thế thấp khi sinh ở cõi đời này. Còn nếu họ sinh ra trong các cõi chư Thiên thì cũng vẫn có sự khác nhau về thọ mạng, thiên sắc, thiên lạc, thiên danh xưng, thiên tăng thượng. Ngay cả khi cùng xuất gia (khi cùng sinh ra làm người) thì vẫn có sự khác nhau như “Thường hay được yêu cầu nhận y, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận đồ ăn khất thực, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận sàng tọa, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận dược phẩm trị bệnh, ít khi không được yêu cầu. Vị ấy sống với những vị đồng Phạm hạnh nào, các vị này đối với vị ấy, xử sự với nhiều thân nghiệp khả ái, với ít thân nghiệp không khả ái, với nhiều khẩu nghiệp khả ái, với ít khẩu nghiệp không khả ái, với nhiều ý nghiệp khả ái, với ít ý nghiệp không khả ái, giúp đỡ với nhiều giúp đỡ khả ái, với ít giúp đỡ không khả ái”.

Đoạn diệt ác nghiệp: Có các cách thức để đoạn diệt ác nghiệp.

Đoạn diệt thiện nghiệp: nếu còn tái sinh thì thiện nghiệp không có đoạn diệt, mà thiện nghiệp cao hơn sẽ thay thế cho thiện nghiệp thấp hơn (nếu cùng hướng). Thiện nghiệp thấp nhất là bố thí tài vật, cao hơn là bố thí pháp, cao hơn nữa là “Đại Bố Thí” tức giữ 5 giới (được nói tới trong bài viết “Cách thức bố thí đem lại giá trị lớn - theo Đức Phật Gotama dạy”), và cao nhất là sự thanh tịnh, chánh trí, giải thoát, là khi nghiệp được đoạn diệt hoàn toàn, không còn tái sinh.

 

4. Luận bàn về Nghiệp của Đức Phật Gotama (Thích Ca Mâu Ni):

Những gì đem tới ác nghiệp?

Đó là vi phạm 5 giới. 5 giới này được Đức Phật Gotama chia ra 1 cách chi tiết trong hành phi pháp và hành chánh pháp được Đức Phật Gotama dạy trong [Trung Bộ Kinh, 41. KINH SÀLEYYAKA (Sàleyyaka sutta] như sau:

“-- Này các Gia chủ, có ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo, có ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo. Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu tình. Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh đối với các dục lạc, giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo.

Này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hãy nói những gì Ông biết"; dầu cho người ấy không biết, người ấy nói: "Tôi biết"; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: "Tôi không biết"; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: "Tôi thấy"; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy". Như vậy, lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia, nói đễ sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo.

Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: "Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!" Lại có người có tâm sân, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: "Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại!" Lại có người có tà kiến, có tưởng điên đảo như: "Không có bố thí, không có kết quả của bố thí, không có tế lễ, không có cúng dường, các hành vi thiện ác, không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chính hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau". Như vậy, này các Gia chủ, là ba ý hành phi pháp, phi chánh đạo. Như vậy do nhân hành phi pháp, hành phi chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Này các Gia chủ, có ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo, có bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo, có ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành đúng pháp, đúng thánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình; từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy; từ bỏ sống theo tà hạnh đối với các dục, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành đúng pháp, đúng chánh đạo.

Và này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hãy nói những gì Ông biết", nếu biết, người ấy nói: "Tôi biết"; nếu không biết, người ấy nói: "Tôi không biết"; hay nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy"; nếu thấy, người ấy nói: "Tôi thấy". Như vậy, lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia; như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói nhu hòa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy. Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, người ấy nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành đúng pháp, đúng chánh đạo.

Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo? Ở đây, này các Gia chủ, có người không có tham ái, không tham lam tài vật của kẻ khác, không nghĩ rằng: "Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!" Lại có người không có tâm sân, không có khởi lên hại ý, hại niệm, nhưng nghĩ rằng: "Mong rằng những loài hữu tình này sống không thù hận, không oán thù, không nhiễu loạn, được an lạc, lo nghĩ tự thân!" Người ấy có chánh kiến, không có tưởng điên đảo, nghĩ rằng: "Có bố thí, có kết quả của bố thí, có tế lễ, có cúng dường, các hành vi thiện ác có kết quả dị thục, có đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trong đời, có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau". Như vậy, này các Gia chủ, có ba loại ý hành đúng pháp, đúng chánh đạo. Như vậy, do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, đời này.”

Và tham, sân, si là căn bản của bất thiện đưa phạm 5 giới. Điều này được Tôn giả Sariputta, đại đệ tử của Đức Phật dạy trong [Trung Bộ Kinh, 9. KINH CHÁNH TRI KIẾN (Sammàditthi sutta)] như sau:

“Tôn giả Sariputta nói như sau:

(Thiện và bất thiện)

-- Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.

Chư Hiền, thế nào là bất thiện, thế nào là căn bổn bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bổn thiện? Chư Hiền, sát sanh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, tà hạnh trong các dục là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói hai lưỡi là bất thiện, ác khẩu là bất thiện, nói phù phiếm là bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là bất thiện.

Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện? Tham là căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si là căn bổn bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện.”

 

Nghiệp hoạt động như thế nào?

Khi hội tụ đầy đủ các điều kiện tự nhiên, và tất cả các yếu tố liên quan đều cùng hoạt động thì nghiệp báo (quả) mới có thể xảy ra cho chúng ta. Không có việc nghiệp xảy ra bất chấp các quy luật tự nhiên như người không ăn uống gì, hay không cần thở mà có thể sống được 20 năm, hay chiếc xe Toyota Camry đang đậu trên đường trong thời tiết trong lành không có mưa bão mà tự nhiên bay lên cao và di chuyển như máy bay được, hay như quy luật trọng lực của trái đất tự nhiên bị mất đi. Hay khi một người bị giết chết thì không thể không có người khác thực hiện việc giết chết người này, hoặc không con thú nào khác thực hiện việc giết người này.

Quả báo của nghiệp không phải chỉ do tự nhiên đem tới theo luật tự nhiên, mà quả báo còn do con người đem tới cho nhau: ví dụ 1 người thực hiện 1 hành động phạm tội vi phạm pháp luật hình sự, kết quả của việc phạm tội là tội được hoàn thành như ý người phạm tội (hoặc không hoàn thành theo ý họ muốn). Và quả báo của Nghiệp này không phải do tự nhiên đem lại cho họ như cho sét đánh chết họ, hay tạo mưa bão làm người phạm tội này chết, mà quả báo là do cơ quan thi hành pháp luật bắt họ, tuyên án họ có tội, và buộc họ phải chịu hình phạt theo đúng luật hình sự.

Bên cạnh quả báo do con người đem tới cho nhau, quả báo của tự nhiên vẫn tồn tại ở đây, và nó tùy thuộc vào sự chấp chặt (bám víu) của người phạm tội vào tội lỗi này. Nếu người này cứ liên tục cố chấp, cảm thấy có lỗi và tức giận bản thân mình, hoặc thích thú với việc phạm tội thì quả báo của tự nhiên vẫn tiếp tục treo trên đầu chờ các điều kiện tự nhiên khác phối hợp đầy đủ thì sẽ trừng phạt họ, vì tâm không thanh tịnh đối với việc này (ở đây có sân và tham, là nguồn gốc bất thiện). (Đoạn này là suy đoán của tác giả bài viết qua nghiên cứu từ nhiều bài kinh cùng với kiểm chứng từ thực tế nên không trích dẫn được kinh của Đức Phật).

Đoạn diệt Nghiệp chính là đoạn diệt hành (đoạn diệt các hành động phạm giới, đoạn diệt tham, sân, si), và đoạn diệt cả sự tiềm tàng của hành. Đối với sự tiềm tàng thì chúng ta đã biết là trong rất nhiều thời điểm của cuộc sống, chúng ta không có cả thân hành phi pháp, cũng không có cả khẩu hành phi pháp, cũng không có cả ý hành phi pháp. Tuy nhiên, sự tiềm tàng của các hành phi pháp trong chúng ta cũng tương tự như sự tiềm tàng của 1 đứa trẻ, và nó được Đức Phật dạy trong [Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), bài kinh 64. Ðại kinh Màlunkyà (Mahà Màlunkyà sutta)] như sau:

“-- Này Malunkyaputta, vì vấn đề gì (hay vì ai) Ông thọ trì năm hạ phần kiết này do Ta giảng dạy? Này Malunkyaputta, có phải các tu sĩ ngoại đạo cật vấn Ông với ví dụ này về đứa con nít? Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngủ không có tự thân, thời đâu nó có thể khởi lên thân kiến? Thân kiến tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ, đang nằm ngửa không có các pháp, thời từ đâu nó có thể khởi lên nghi hoặc đối với các pháp? Nghi tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có giới, thời từ đâu nó có thể khởi lên giới cấm thủ trong các giới? Giới cấm thủ tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có những dục, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng dục tham trong các dục? Dục tham, tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngửa không có các loài hữu tình, thời từ đâu nó có thể khởi lên lòng sân đối với các loài hữu tình? Sân tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó. Này Malunkyaputta, có phải các tu sĩ ngoại đạo cật vấn Ông với ví dụ này về đứa con nít?”

(Giải thích 1 số từ ngữ trong đoạn trích trên: thân kiến = cái Tôi (Ego), nghi = nghi ngờ, giới cấm thủ (clinging to precepts and practices) = thực hành giới một cách cố chấp/ hoặc thường xuyên thực hành tà giới, dục tham = tham ái, sân= ác ý)

Cái tiềm tàng của hành phi pháp trong chúng ta không khiến chúng ta phải chịu quả báo của ác nghiệp. Chỉ tới khi cái tiềm tàng này chuyển thành hành phi pháp thì chúng ta mới phải chịu quả báo của ác nghiệp. Nhưng làm sao biết được khi nào cái tiềm tàng này biến thành hành phi pháp? Phần này Đức Phật có dạy trong [Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya), bài kinh 21. Kinh Ví dụ cái cưa (Kakacùpama sutta)] như sau:

“Chư Tỷ-kheo, thuở xưa, tại thành Savatthi này có nữ gia chủ tên là Vedehika. Chư Tỷ-kheo, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được khởi lên về nữ gia chủ Vedehika: "Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục, nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa". Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika có người nữ tỳ tên là Kali, người này khéo tay, siêng năng, và làm việc cẩn thận chu toàn. Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali khởi lên ý nghĩ: "Chủ của ta được tiếng đồn tốt đẹp khởi lên như sau: "Nữ gia chủ Vedehika là hiền thục; nữ gia chủ Vedehika là nhu thuận; nữ gia chủ Vedehika là ôn hòa". Không biết nữ chủ của ta có nội sân mà không tỏ lộ hay không có nội sân, hay vì công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ ta có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử nữ chủ của ta!"

Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng ngày sau dậy thật trễ. Chư Tỷ-kheo, nữ gia chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:

-- Này Kali!

-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?

-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?

-- Thưa nữ chủ, có việc gì đâu?

-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!"

Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, trừng mắt.

Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: "Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn, nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy Ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!"

Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali ngày sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:

-- Này Kali!

-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?

-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?

-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?

-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!

Và nữ chủ phẫn nộ, bất mãn, thốt lên những lời bất mãn.

Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali suy nghĩ: "Nữ chủ của ta thật sự có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vì những công việc ta làm cẩn thận chu toàn nên nữ chủ của ta tuy có nội sân nhưng không tỏ lộ, không phải không có. Vậy ta hãy thử thêm nữa nữ chủ của ta!"

Chư Tỷ-kheo, rồi nữ tỳ Kali sáng hôm sau lại dậy trễ hơn nữa. Chư Tỷ-kheo, nữ chủ Vedehika nói với nữ tỳ Kali:

-- Này Kali!

-- Thưa Nữ chủ, có việc gì?

-- Sao hôm nay Ngươi dậy trễ vậy?

-- Thưa Nữ chủ, có việc gì đâu?

-- Thật sự không có việc gì à? Ác nữ tỳ kia, hôm nay Ngươi dậy trễ!

Rồi phẫn nộ, không hoan hỷ, nàng cầm cái then gài cửa, đánh một cú trên đầu nữ tỳ khiến bể đầu.

Chư Tỷ-kheo, nữ tỳ Kali, với đầu bể máu chảy, liền đi kể lể với các nhà láng giềng:

-- Hãy xem việc làm của nữ chủ hiền thục! Hãy xem việc làm của nữ chủ nhu thuận! Hãy xem việc làm của nữ chủ ôn hòa! Sao nữ chủ nói với nữ tỳ độc nhất: "Hôm nay Ngươi dậy trễ", rồi phẫn nộ, bất mãn, nàng cầm then gài cửa, đánh tôi một cú trên đầu khiến bể đầu".

Chư Tỷ-kheo, sau một thời gian, tiếng đồn xấu sau đây được khởi lên về nữ chủ Vedehika: "Nữ chủ Vedehika là độc ác! Nữ chủ Vedehika là không nhu thuận! Nữ chủ Vedehika là không ôn hòa!"”

Khi ác nghiệp xảy tới thì chúng ta sẽ như thế nào?

Khi quả báo của ác nghiệp xảy tới, nó không có sức mạnh và quyền năng để buộc chúng ta phải chịu đựng nó, mà nó chỉ đem tới sự nguy hiểm, nguy cơ, bất lợi cho chúng ta mà thôi. Vì vậy, chúng ta sẽ hành động để ứng phó nó, và trong rất nhiều trường hợp, khi quả báo của ác nghiệp xảy tới lại đem tới cơ hội tạo ra lợi ích cho chúng ta, nó phụ thuộc vào cách ứng phó với ác nghiệp của chúng ta như thế nào. Nhìn lại trong cuộc sống của chúng ta thì thấy rõ là chúng ta đã và đang phải gặp rất nhiều nguy hiểm, nguy cơ, bất lợi, nhưng chúng ta vẫn có thể ứng phó tốt cho tới ngày hôm nay. Trong tương lai chúng ta cũng sẽ tiếp tục gặp nhiều nguy hiểm, nguy cơ và bất lợi nữa, nên cứ tiếp tục tin tưởng chúng ta có thể ứng phó tốt cho cuộc sống của mình.
Sự không được phép chịu trận, mà bắt buộc phải ứng phó với tất cả những nguy hiểm, nguy cơ, bất lợi của ác nghiệp cũng đã được Đức Phật dạy rõ trong [Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh CHƯƠNG V – NĂM PHÁP, (V) (175) Kẻ Bị Vất Bỏ] thông qua việc cấm chúng ta “đoán trước tương lai với những nghi lễ đặc biệt”, cấm chúng ta “tin tưởng điềm lành”, cấm chúng ta “không tin hành động” của mình. Mà nếu ai vi phạm thì sẽ là cấu uế cho cư sĩ, là tối hạ liệt cho cư sĩ, và bị vất bỏ khỏi giới cư sĩ như sau:

“1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ. Thế nào là năm?

Không tin; ác giới; đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt; tin tưởng điềm lành; không tin hành động; tìm kiếm ngoài (Tăng chúng) người xứng đáng tôn trọng và tại đấy phục vụ trước.

Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ.”

Mặc dù chúng ta có thể ứng phó với quả báo của ác nghiệp, nhưng nếu ác nghiệp của chúng ta được giảm bớt thì chúng ta cũng sẽ ít phải gặp những nguy hiểm, nguy cơ và bất lợi hơn. Điều này chúng ta cũng dễ dàng nhìn thấy là có những người gặp nhiều may mắn trong cuộc sống hơn những người khác.

 

5. Những chia sẻ có giá trị lớn từ sự thực hành pháp của Đức Phật Gotama:

Người thực hành và chia sẻ ở đây là tác giả bài viết Phạm Nguyễn Anh Kiệt sau hơn 6 năm, trong đó có hơn 5 năm ở ẩn, bế quan luyện công chuyên tâm nghiên cứu và thực hành pháp của Đức Phật Gotama:

Sau hơn 1 năm (từ cuối năm 2014) sử dụng thôi miên, EFT (Emotional Freedom Techniques) loại bỏ các cảm xúc tiêu cực với nền tảng là các kiến thức và trải nghiệm tâm lý, tâm linh đã nghiên cứu và ứng dụng liên tục từ nhỏ, đồng thời cũng đã mở các lớp dạy về EFT để loại bỏ các cảm xúc tiêu cực cho nhiều người, thì nhận thấy đã chạm tới sự giới hạn, không còn biết đi theo hướng nào để phát triển nữa trong khi bản thân mình và các học viên đều vẫn còn rất nhiều cảm xúc tiêu cực.

Thì tới đầu năm 2016, tôi bắt đầu tập trung vào Thiền Vipassana và nghiên cứu pháp, tất cả đều là của Đức Phật Gotama dạy, thì nhận thức rõ được sự giới hạn trước đây và con đường được mở ra. Và tôi đã liên tục chỉ tập trung vào duy nhất việc này từ đó tới khi hoàn tất bài viết này (01/3/2021) là hơn 5 năm (hiện nay vẫn luôn tiếp tục tập trung cho sự nghiên cứu và thực hành này vì lợi ích quá lớn của nó). Tôi có 1 vài chia sẻ sau:

► Loại bỏ bớt được bất thiện, loại bỏ những điều không thanh tịnh, loại bỏ bớt được tham, sân, si thì:

- Do các cảm xúc tiêu cực gây ra sự đau đớn bên trong tâm trí và cơ thể ta, nên nó có thể cũng là quả báo của ác nghiệp. Khi bớt được sự đau đớn do các cảm xúc tiêu cực gây ra, thì cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái, tự nhiên hơn hẳn. Càng loại bỏ thì càng bớt đau, càng thấy nhẹ nhàng thêm, thoải mái thêm, tự nhiên thêm, tới nay vẫn cứ tiếp tục được thêm. Tôi suy đoán theo những gì Đức Phật dạy thì cho tới khi nào đạt tới thanh tịnh, chánh trí, giải thoát thì mới không còn các cảm xúc tiêu cực nữa.

- Khi loại bỏ những bất thiện, mà thể hiện rõ trong tâm trí chúng ta là các cảm xúc tích cực, cảm xúc tiêu cực và các suy nghĩ bất thiện thì chúng ta dễ dàng hành động được, dễ dàng suy nghĩ được, làm được nhiều việc mà trước đây không thể làm được: Trước đây có rất nhiều việc có giá trị lợi ích cho bản thân mình, và rất nhiều việc tốt cho cuộc sống bản thân tôi không dám làm (sợ hãi, lo lắng, bất an), hoặc không thể làm vì tay chân, đầu óc cứng đơ, không thể suy nghĩ được gì và không thể nhấc tay, nhấc chân lên để làm được. Như vậy, có vẻ như quả báo của các ác nghiệp đã luôn được lưu giữ trong chính các cảm xúc và ngăn chặn, điều khiển chúng ta.

► Từ sự thực hành và đạt kết quả như trên thì thấy: một phần của nghiệp đã được lưu trữ và hoạt động ngay bên trong bản thân chúng ta, ngay bên trong tâm trí (cảm xúc tiêu cực) và cơ thể chúng ta (khẩu hành & thân hành), nên chúng ta có thể chủ động loại bỏ nó được. Tuy nhiên, vẫn còn những sự việc, những nguy cơ và bất lợi tới từ bên ngoài như thiên tai (bão lụt, dịch bệnh), nhân tai (tai họa tới từ lỗi của người khác nhưng bản thân chúng ta phải chịu thiệt hại như người khác gây tai nạn giao thông nhưng chúng ta phải chịu hậu quả) thì được lưu ở đâu và hoạt động như thế nào? Cái này thì không biết. Cho nên chúng ta chỉ có thể luôn cẩn thận và sẵn sàng ứng phó thôi.

► Qua nghiên cứu pháp và thực hành thì nhận thấy: để tích lũy được thiện nghiệp, thì chỉ có bố thí là phải làm thôi, còn lại 5 giới và thanh tịnh thì đa số là không làm. Cho nên, càng ít làm, càng ít hành động càng tốt, có thể nói là nhu cầu bản thân càng ít càng tốt, nhưng không được cố sức ép bản thân mình vì sẽ phản tác dụng. Hãy yên tĩnh, tâm trí thì luôn giữ sự ý thức đúng đắn, đó cũng là lý do Đức Phật chú trọng vào Thiền Chánh Niệm (Thiền Vipassana). Thiền Vipassana có 2 tác dụng: (1) thanh lọc bất thiện của hành (thân hành, khẩu hành, ý hành). (2) Chánh niệm (ý thức 1 cách đúng đắn): chánh niệm thì tâm trí sẽ giữ được ở hiện thực thực tế của cuộc sống, tránh bị rơi vào ảo tưởng để rồi đưa tới hành phi pháp rồi phải chịu quả báo của ác nghiệp.

 

~~oOo~~

Tài liệu dẫn chứng:

- Bộ kinh Nikaya, nhưng trong đó chỉ lấy những bài kinh đã được 500 vị A la hán đại đệ tử trực tiếp của Đức Phật Gotama (Thích Ca Mâu Ni) tập kết xác nhận trong lần kết tập thứ nhất ở thời điểm 3 tháng sau ngày Đức Phật Gotama qua đời. Các bài kinh này gồm tất cả các bài kinh thuộc 4 bộ: Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh và Tương Ưng Bộ kinh, riêng Tiểu Bộ kinh thì chỉ có Tiểu Bộ 1. Còn những bài kinh khác thuộc Tiểu Bộ kinh, do được thêm vào ở những khoảng thời gian rất lâu sau thời Đức Phật Gotama, nên chỉ có giá trị tham khảo. Bộ kinh Nikaya hiện nay được lưu truyền bởi chi phái Phật Giáo Nguyên Thủy (Nam Truyền, Nam Tông).

 


Phạm Nguyễn Anh Kiệt
~Sự Kỳ Diệu~


 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha