Làm sao để ứng phó và làm chủ Nghiệp của mình? - theo Đức Phật Gotama dạy

Khi các kết quả hồi đáp từ các nghiệp trong quá khứ xảy tới với chúng ta ngày hôm nay hoặc trong tương lai, thì chúng ta có thể ứng phó với nó như thế nào?

Ngày đăng: 21-01-2021

211 lượt xem

Trong bài viết “Như thế nào là Nghiệp? - theo Đức Phật Gotama dạy” đã cho chúng ta biết như thế nào là nghiệp, và cách thức để đoạn diệt ác nghiệp. Còn trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể nghiệp hoạt động như thế nào để từ đó tìm ra cách ứng phó đem lại hiệu quả tốt nhất cho bản thân mình.

 

Chúng ta có bị bắt buộc phải cam chịu khi kết quả hồi đáp của ác nghiệp xảy tới không?

Đức Phật Gotama (Thích Ca Mâu Ni) cho chúng ta biết là trong hiện tại và tương lai, không có chuyện chúng ta phải cam chịu hậu quả (hoặc nhận lãnh kết quả) do các nghiệp gây ra, mà chúng ta có thể hành động, và bắt buộc phải hành động để ứng phó với các nghiệp, để đem lại kết quả có lợi nhất cho bản thân mình. Đồng thời, các hành động và kết quả từ các hành động này trong hiện tại lại tiếp tục tạo nghiệp, vẫn là hoặc thiện nghiệp hoặc ác nghiệp, đóng góp vào các kết quả hồi đáp khác cho chúng ta trong tương lai. Cho nên chúng ta phải liên tục cân nhắc, từng giây từng phút, mọi hành động của chúng ta qua thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.

 

Chúng ta sẽ xem xét 3 đoạn trích trong 3 bài kinh khác nhau sau đây:

Thông qua 3 lời dạy dưới đây của Đức Phật Gotama trong 3 bài kinh khác nhau, chúng ta thấy: Chúng ta chính là chủ nhân, là thừa tự của nghiệp (vì con người chúng ta là 1 trong các loài hữu tình), tức nghiệp sẽ luôn chi phối chúng ta (đoạn trích thứ nhất). Nhưng chúng ta không thể có chuyện cầu xin rồi sẽ được như ý (đoạn trích thứ 2). Bên cạnh đó, dù nghiệp trong quá khứ chi phối chúng ta ngày hôm nay và trong tương lai, nhưng chúng ta không được thụ động chấp nhận, chúng ta cũng không được đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt, cũng không được tin tưởng vào điềm lành. mà phải hành động. Chúng ta chỉ có thể đạt được mọi điều như ý muốn của mình thông qua hành động, và tin tưởng vào hành động của mình mà thôi (đoạn trích thứ 3).

 

Đoạn trích (1) từ bài kinh Tiểu kinh Nghiệp phân biệt [Trung Bộ kinh, bài kinh 135. Tiểu kinh Nghiệp phân biệt]: Đức Phật cho biết con người chúng ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp:

“....Ngồi xuống một bên, thanh niên Subha Todeyyaputta bạch Thế Tôn:

-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?

Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi thấy có người đoản thọ, có người trường thọ; chúng tôi thấy có người nhiều bệnh, có người ít bệnh; chúng tôi thấy có người xấu sắc, có người đẹp sắc; chúng tôi thấy có người quyền thế nhỏ, có người quyền thế lớn; chúng tôi thấy có người tài sản nhỏ, có người tài sản lớn; chúng tôi thấy có người thuộc gia đình hạ liệt, có người thuộc gia đình cao quý; chúng tôi thấy có người trí tuệ yếu kém, có người có đầy đủ trí tuệ.

Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, giữa loài Người với nhau, khi họ là loài Người, lại thấy có người liệt, có người ưu?

-- Này Thanh niên, các loài hữu tình là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp phân chia các loài hữu tình; nghĩa là có liệt, có ưu.”

Đoạn trích (2) sau trong [Trường Bộ kinh, bài kinh 13. KINH TEVIJJA (TAM MINH) (Tevijja sutta)], Đức Phật cho biết việc cầu xin là vô nghĩa, không thể có chuyện chỉ cầu xin mà được như ý được.

“24. Này Vàsettha, như sông Aciravati này, đầy tràn cho đến bờ khiến con quạ có thể uống được. Có người đến, có sự việc bên bờ bên kia, tìm đến bờ bên kia, hướng đến bờ bên kia và muốn lội qua bờ bên kia. Người đứng bờ bên này kêu bờ bên kia và nói: "Bờ bên kia, hãy lại đây! Bờ bên kia, hãy lại đây". Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải vì người kia kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravati đến bờ bên này không?

- Tôn giả Gotama, không thể vậy.

25. - Cũng vậy, này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn, tuân theo những pháp không tác thành người Bà-la-môn, những vị này đã nói: "Chúng tôi cầu khẩn Indra (Nhân-đà-la), chúng tôi cầu khẩn Soma (Tô-ma), chúng tôi cầu khẩn Vanena (Bà-lưu-va), chúng tôi cầu khẩn Isàna (Y-sa-na), chúng tôi cầu khẩn Pajàpati (Sanh chủ), chúng tôi cầu khẩn Brahmà (Phạm thiên), chúng tôi cầu khẩn Mahiddhi (Ma-hi-đề), chúng tôi cầu khẩn Yama (Dạ-ma). Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà ấy, loại bỏ những pháp tác thành người Bà-la-môn - vì kêu gọi, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán, sau khi thân hoại mạng chung, những vị ấy sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không có sự kiện ấy.”

Đoạn trích (3) sau trong [Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh CHƯƠNG V – NĂM PHÁP, (V) (175) Kẻ Bị Vất Bỏ], cho thấy Đức Phật không cho phép chúng ta thụ động chịu đựng, mà phải hành động, làm chủ hành động của mình qua việc cấm chúng ta “đoán trước tương lai với những nghi lễ đặc biệt”, cấm chúng ta “tin tưởng điềm lành”, cấm chúng ta “không tin hành động” của mình. Nà nếu ai vi phạm thì sẽ là cấu uế cho cư sĩ, là tối hạ liệt cho cư sĩ, và bị vất bỏ khỏi giới cư sĩ.

“1. - Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ. Thế nào là năm?

Không tin; ác giới; đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt; tin tưởng điềm lành; không tin hành động; tìm kiếm ngoài (Tăng chúng) người xứng đáng tôn trọng và tại đấy phục vụ trước.

Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là kẻ bị vất bỏ khỏi giới nam cư sĩ, là cấu uế cho nam cư sĩ, là tối hạ liệt cho nam cư sĩ.”

Như vậy, chúng ta đã thấy: không thể có chuyện vì nghiệp trong quá khứ mà ngày hôm nay chúng ta phải cam chịu kết quả xảy tới của nó. Mà chúng ta phải liên tục tính toán, phải liên tục hành động 1 cách kiên trì, chủ động để đón nhận tất cả các lợi thế, đồng thời khắc phục tất cả các bất lợi, tất cả các hoàn cảnh để đạt được kết quả tốt nhất cho bản thân mình.

Tới đây chúng ta còn cần phải tìm hiểu tiếp coi 2 phần mà Đức Phật cấm trong đoạn trích thứ 3 (sau cùng) ở trên là “đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt”, và “tin tưởng điềm lành” là gì để có thể thực hành đúng theo lời dạy của Đức Phật, để đem lại giá trị lợi ích tốt nhất cho bản thân mình. Và để không phải đoán già đoán non, dẫn tới có thể hiểu sai, làm sai lời dạy của Đức Phật, chúng ta sẽ tìm trong các bài kinh khác của Đức Phật.

Trong [Trường Bộ kinh, bài kinh 1. KINH PHẠM VÕNG (Brahmajàla sutta)], ở phần “Đại Giới”, Đức Phật có đề cập tới các tà mạng đối với các vị Sa môn (người xuất gia), Bà la môn, chúng ta thấy có rất nhiều những việc dùng để “đoán tương lai” và tìm kiếm “điềm lành” như sau:

“21. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hột cải v.v... vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế dầu, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu ma quỷ, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bọ cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa những tà hạnh kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

22. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống mình bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tường đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những tà mạng kể trên.

- Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

23. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước: Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lui quân; vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối; vua ngoại bang sẽ tấn công, vua bản xứ sẽ triệt thối; vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ bại trận; vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự thất bại cho phe bên kia. Còn Sa-môn Gotama thì từ bỏ những tà mạng kể trên.

- Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

24. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhựt thực, sẽ có tinh thực; mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng, mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động đất, sẽ có sấm trời, mặt trăng, mặt trời, các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhựt thực sẽ có kết quả như thế này, tinh thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các phương hướng sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có những kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng, mặt trời, các sao mọc, lặn, mờ, sáng, sẽ có kết quả như thế này. Còn Sa-môn Gotama thì tránh xa, không tự nuôi sống bằng những tà mạng kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

25. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như đoán trước sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ có hiểm họa, sẽ có bịnh, sẽ không có bịnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà hạnh kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.

26. Trong khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng. Như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rể, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến cho người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến cho tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng, thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn Sa-môn Gotama tránh xa các tà mạng kể trên. - Này các Tỷ-kheo, như vậy kẻ phàm phu tán thán Như Lai.”

 

Làm sao để làm chủ Nghiệp của chúng ta?

Để làm chủ nghiệp của bản thân mình thì chúng ta phải làm chủ thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp của chúng ta, tức làm chủ tất cả các hành động của mình. Chúng ta không thể hủy bỏ hay thay đổi các nghiệp, hành động trong quá khứ, nhưng chúng ta có thể quyết định nghiệp sẽ được thực hiện như thế nào trong hiện tại, tại giây phút này, và trong tương lai.

Như vậy, bên cạnh việc luôn phải sẵn sàng và hành động để ứng phó với các kết quả hồi đáp từ các nghiệp trong quá khứ, chúng ta cũng cần phải chủ động tính toán, hành động hợp lý để vừa làm chủ các nghiệp được thực hiện ở thời điểm hiện tại cho mục đích có các kết quả tốt hơn cho tương lai của mình. Để có thể làm được điều này thì chỉ có 1 cách: đó là phát triển trí tuệ của chúng ta, và phải phát triển liên tục. Trí tuệ cũng chính là sự thanh tịnh, nên chúng ta có thể nhắm hướng phát triển sự thanh tịnh cho việc phát triển trí tuệ cũng được. Bên cạnh đó, Đức Phật Gotama cũng dạy thêm cách thức làm chủ nghiệp cho chúng ta ở đoạn trích bên dưới.

Đoạn trích sau đây trong [Tăng Chi Bộ Kinh, CHƯƠNG III – BA PHÁP, từ mục 107-110 (Ba Nhân Duyên (1)(2)(3)(4))], Đức Phật dạy cách làm chủ nghiệp như sau:

107.- Ba Nhân Duyên (1)

- Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?

Tham là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, sân là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, si là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.

Phàm nghiệp nào do tham tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ tham, do tham làm nhân duyên, do tham tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Phàm nghiệp nào do sân tác thành ... Phàm nghiệp nào do si tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ si, do si làm nhân duyên, do si tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.

108.- Ba Nhân Duyên (2)

- Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?

Vô tham là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, vô sân là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, vô si là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.

Phàm nghiệp nào do vô tham tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô tham, do vô tham làm nhân duyên, do vô tham tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi. Phàm nghiệp nào do vô sân tác thành ... Phàm nghiệp nào do vô si tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô si, do vô si làm nhân duyên, do vô si tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.

109.- Nhân Duyên (3)

1. - Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ; ước muốn khởi lên. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai; ước muốn khởi lên. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại; ước muốn khởi lên.

2. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn khởi lên?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó bị liên hệ với các pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn sanh khởi.

3. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn sanh khởi ?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó bị liên hệ với các pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn sanh khởi.

4. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn khởi sanh?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó bị liên hệ với pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn sanh khởi.

110. Nhân Duyên (4)

1. - Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?

Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ; ước muốn không khởi sanh. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai; ước muốn không khởi sanh. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại; ước muốn không sanh khởi.

2. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn không sanh khởi?

Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo, quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người ấy không còn tham đắm; với trí tuệ, vị ấy thể nhập và thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn không sanh khởi.

3. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn không sanh khởi?

Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo, quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người ấy không còn tham đắm; với trí tuệ, người ấy thể nhập và thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn không sanh khởi.

4. Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn không sanh khởi?

Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo, quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người ấy không còn tham đắm; với trí tuệ, người ấy thể nhập và thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn không sanh khởi.”

 

~~oOo~~

Tài liệu dẫn chứng:

- Bộ kinh Nikaya, nhưng trong đó chỉ lấy những bài kinh đã được 500 vị A la hán đại đệ tử trực tiếp của Đức Phật Gotama (Thích Ca Mâu Ni) tập kết xác nhận trong lần kết tập thứ nhất ở thời điểm 3 tháng sau ngày Đức Phật Gotama qua đời. Các bài kinh này gồm tất cả các bài kinh thuộc 4 bộ: Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh và Tương Ưng Bộ kinh, riêng Tiểu Bộ kinh thì chỉ có Tiểu Bộ 1. Còn những bài kinh khác thuộc Tiểu Bộ kinh, do được thêm vào ở những khoảng thời gian rất lâu sau thời Đức Phật Gotama, nên chỉ có giá trị tham khảo. Bộ kinh Nikaya hiện nay được lưu truyền bởi chi phái Phật Giáo Nguyên Thủy (Nam Truyền, Nam Tông).


 

Phạm Nguyễn Anh Kiệt
~Sự Kỳ Diệu~


 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha