Làm chủ ý hành và ý nghiệp của mình - theo Đức Phật Gotama dạy

Ý nghiệp là 1 trong 3 loại nghiệp gồm khẩu nghiệp, thân nghiệp và ý nghiệp. Trong đó, ý nghiệp là quan trọng nhất, nên sẽ vô cùng giá trị khi chúng ta làm chủ được nó.

Ngày đăng: 25-01-2021

265 lượt xem


Ý chính là tâm, là tâm trí của chúng ta. Khi ý làm việc có nghĩa là tâm, tâm trí của chúng ta làm việc. Cho nên, làm chủ ý tức là làm chủ tâm, làm chủ tâm trí của chúng ta.

Ý nghiệp là nghiệp do ý tạo ra, còn ý hành có nghĩa là hành động của ý (tâm, tâm trí).

 

Nội dung trong bài viết này gồm:

1. Sự làm việc của ý (tâm) quan trọng như thế nào?

2. Ý sẽ giới hạn mức độ lợi ích mà chúng ta sẽ nhận được

3. Làm sao để có thể làm chủ được ý hành và ý nghiệp của mình?

4. Kiến thức nào là kiến thức đúng đắn (chánh pháp)?

5. Công cụ nào có thể sử dụng để thanh lọc tâm?

6. Làm sao để kiểm tra được là chúng ta đã làm chủ được ý hành và ý nghiệp?

 

1. Sự làm việc của ý (tâm) quan trọng như thế nào?

Mỗi người chúng ta chỉ bao gồm 2 phần là thân và ý (tâm, tâm trí) . Ý điều khiển tất cả hoạt động của thân và tâm chúng ta. Nếu tâm không muốn làm gì thì thân và khẩu (lời nói) sẽ không làm gì. Do đó, mọi hành động của chúng ta đều có chủ đích từ tâm. Nếu tâm trong sạch thì hành động thân và khẩu cũng sẽ trong sạch, không làm sai, không làm việc ác, không tạo ra ác nghiệp, và chúng ta sẽ không phải chịu đau khổ.

Kiến thức của chúng ta được chứa bên trong ý. Ý quyết định mọi mong muốn, rồi tính toán đường đi nước bước, rồi sau đó ra lệnh cho thân, khẩu, và cả chính ý thực hiện. Thân hay khẩu không thể chứa kiến thức để dẫn dắt cho các tính toán, thân hay khẩu cũng không thể ra lệnh, dẫn dắt hành động cho ý được. Cho nên, nếu ý (tâm) không có kiến thức để biết cái gì là đúng, cái gì là sai, cái gì là nên, cái gì là không nên để dẫn dắt cho các suy nghĩ, tính toán, để chủ động điều khiển các hành động của thân, khẩu và cả ý làm những việc có chủ đích đem lại giá trị lợi ích, thì thân, khẩu, và ý sẽ hành động 1 cách loạn xạ, bấn loạn, hay làm những việc sai trái, tạo ác nghiệp, thì đó là 1 người ngu xuẩn, kết quả là chỉ có thể nhận lấy các kết quả tệ hại.

Đoạn trích sau đây trong [Trung Bộ Kinh, bài kinh 9. KINH CHÁNH TRI KIẾN (Sammàditthi sutta)] cho thấy các hành động thiện và bất thiện đều có căn bản nguồn gốc do tham, sân, si (tham = tham dục, sân = ác ý, si = tà kiến/ảo tưởng/ngu si). Và tất cả tham, sân, si này đều nằm bên trong tâm (ý). Đồng thời qua đây cũng cho thấy: chúng ta thường tự lừa dối bản thân mình là không biết thì không có tội. Nhưng qua bài kinh này thì thấy rõ là không biết (tức si, ngu si, tà kiến) thì có tội rất lớn, ngang bằng với ác ý (sân).

“-- Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.

Chư Hiền, thế nào là bất thiện, thế nào là căn bổn bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bổn thiện? Chư Hiền, sát sanh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, tà hạnh trong các dục là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói hai lưỡi là bất thiện, ác khẩu là bất thiện, nói phù phiếm là bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là bất thiện.

Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện? Tham là căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si là căn bổn bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện.

Và này chư Hiền, thế nào là thiện? Từ bỏ sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là thiện.

Chư Hiền, thế nào là căn bổn thiện? Không tham là căn bổn thiện, không sân là căn bổn thiện, không si là căn bổn thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn thiện.

Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri bất thiện như vậy, tuệ tri căn bổn bất thiện như vậy, tuệ tri thiện như vậy, tuệ tri căn bổn thiện như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.”

Đoạn trích sau đây trong [Trung Bộ Kinh, bài kinh 7. KINH VÍ DỤ TẤM VẢI (Vatthùpama sutta)] cho thấy các cấu uế (dơ bẩn) của chúng ta nằm ở tâm, và để đoạn trừ các cấu uế này, chúng ta cũng sẽ đoạn trừ ngay trong tâm, không thể đoạn trừ nó ở thân hay khẩu được:

“-- Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghĩ rằng: "Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm" và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm; nghĩ rằng: "Sân là cấu uế của tâm", và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn... hận... hư ngụy... não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; nghĩ rằng: "Phóng dật là cấu uế của tâm" thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm.”

(Giải thích nghĩa của các cấu uế trên: Tham dục = Lòng tham, tà tham = lòng tham bất chính, sân = ác ý, phẫn = tức giận, hận = thù địch, hư ngụy = gièm pha, não hại = độc đoán/đàn áp/cưỡng ép, tật đố = đố kỵ, xan tham = ghen tị, man trá = đạo đức giả, khi cuống = lừa đảo, ngoan cố = cố chấp, cấp tháo = định kiến/thiên kiến, quá mạn = tự phụ, kiêu = kiêu ngạo, phóng dật = buông thả)

 

Đoạn trích sau trong [Trường Bộ Kinh, bài kinh 13. KINH TEVIJJA (TAM MINH) (Tevijja sutta)] cho thấy khi ý (tâm) bị cấu uế, không thanh tịnh thì không thể cộng trú với các chư thiên, chư phạm thiên được.

“33. - Này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái, Phạm thiên không có tham ái. Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có tham ái với Phạm thiên không có tham ái, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

- Tôn giả Gotama, không thể có được.

34. - Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có dục ái ấy sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không thể có sự kiện ấy.

35. - Này Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà có hận tâm, Phạm thiên không có hận tâm. Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có hận tâm với Phạm thiên không có hận tâm, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

- Tôn giả Gotama, không thể có được.

Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có sân tâm, Phạm thiên không có sân tâm, Phạm thiên không có hận tâm. Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có sân tâm với Phạm thiên không có sân tâm, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

- Tôn giả Gotama, không thể có được.

Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có nhiễm tâm, Phạm thiên không có nhiễm tâm, Phạm thiên không có hận tâm. Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là có nhiễm tâm với Phạm thiên không có nhiễm tâm, có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

- Tôn giả Gotama, không thể có được.

Giữa các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, không có tự tại với Phạm thiên có tự tại có thể có một sự cọng hành, cọng trú không?

- Tôn giả Gotama, không thể có được.

36. - Lành thay, Vàsettha. Này Vàsettha, những vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên - Thật không thể có sự kiện ấy.

Này Vàsettha, ở đời các Bà-la-môn dầu có tinh thông ba tập Vedà, khi các vị này ngồi (với sự tự tín), thật sự đang chìm (trong bùn lầy), và khi đang chìm (trong bùn lầy) phải sống trong thất vọng, lầm tưởng rằng đã đến cảnh giới an lạc hơn. Do vậy đối với những Bà-la-môn tinh thông Vedà sự tinh thông ấy được gọi là bãi sa mạc không có nước, sự tinh thông ấy cũng được gọi là rừng rậm không có đường lối, sự tinh thông ấy cũng được gọi là sự bất hạnh.”

 

2. Ý sẽ giới hạn mức độ lợi ích mà chúng ta sẽ nhận được:

Đoạn trích sau trong [Trường Bộ Kinh, bài kinh 33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta), Tụng phẩm III, Tám pháp, vii) Tám thí sanh] cho thấy các trường hợp dù đã giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh, tức đã đủ điều kiện để nhận được các mức lợi ích cao, nhưng nếu ý chỉ muốn nhận 1 mức độ lợi ích thấp hơn, thì sẽ chỉ nhận được mức lợi ích thấp hơn đó thôi.

“Này các Hiền giả, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được bố thí trở lại. Người này thấy người Sát đế lỵ có nhiều tài sản, người Ba la môn có nhiều tài sản, hay người gia chủ có nhiều tài sản, được sung mãn, cụ túc, thụ hưởng năm món dục lạc. Vị này nghĩ: "Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh là một trong những người Sát đế lỵ có nhiều tài sản, người Bà la môn có nhiều tài sản hay người gia chủ có nhiều tài sản". Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận, đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: "Tứ Ðại Thiên vương thọ mạng lâu dài, đẹp trai và nhiều an lạc". Vị này nghĩ: "Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng Tứ Ðại Thiên vương". Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: "Chư Thiên Tam thập tam thiên... chư Thiên Dạ ma... chư Thiên Ðâu suất... chư Thiên Hóa Lạc... chư Thiên Tha Hóa Tự tại được sống lâu, đẹp trai, được nhiều an lạc". Vị này nghĩ: "Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng chư Thiên Tha Hóa Tự tại". Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận, đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây, có người bố thí cho Sa môn hay Bà la môn, đồ ăn, đồ uống, vải, xe cộ, hoa man, hương xông, hương thoa, sàng tọa, phòng xá, đèn sáng. Ðồ vật vị này bố thí, vị này mong được trở lại. Vị này nghe: "Chư Thiên Phạm Chúng thọ mạng lâu dài, đẹp trai và nhiều an lạc". Vị này nghĩ: "Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh thành một trong hàng Phạm Chúng thiên". Vị này nắm vững tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Tâm này được giải thoát trong tầm hạ liệt, không tu tập cao hơn, nên đưa đến tái sanh trong tầm ấy. Và tôi xác nhận đây là trường hợp một vị đầy đủ giới luật, không phải vị phá giới luật. Này các Hiền giả, tâm nguyện của một vị giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh.”

Tuy nhiên, vì chúng ta vẫn đang còn sống, tức vẫn còn hành động và tiếp tục tạo nghiệp, nên chúng ta vẫn có thể thay đổi ý muốn tới các lợi ích cao hơn, nếu chúng ta vẫn còn giữ giới được thành tựu nhờ sự thanh tịnh. Nên không cần quá lo, chúng ta có thể thay đổi bất cứ khi nào nhận thấy mình có thể. Và đoạn trích bên dưới trong [Tương Ưng Bộ - Samyutta Nikaya, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, [55] Chương XI - Tương Ưng Dự Lưu (b), 54. IV. Bị Bệnh (S.v,408)] cho thấy điều đó.

"10) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ nhân dục và hướng đến Tứ đại thiên vương thiên", vị ấy cần được nói như sau: "Chư Thiên ở cõi Ba mươi ba còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn Tứ đại thiên vương thiên. Tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Tứ đại thiên vương thiên và hướng tâm đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba".

11-16) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ Tứ đại thiên vương thiên và hướng đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba", vị ấy cần được nói như sau: "Chư Thiên Yamà, chư Thiên Tusità, chư Thiên Hóa lạc thiên, chư Thiên Tha hóa tự tại thiên còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba".

17) ... "Chư Thiên ở Phạm thế còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tốt hơn Tôn giả từ bỏ tâm khỏi chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm đến Phạm thế, Phạm thiên giới".

18) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm về chư Thiên ở Phạm thế", thời vị ấy cần phải được nói như sau: "Này Tôn giả, Phạm thiên giới là vô thường, không thường hằng, bị thân kiến giới hạn. Tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Phạm thế và hướng tâm đến đoạn diệt thân kiến (Sakkàya)".

19) Nếu vị ấy nói như sau: "Tâm tôi đã từ bỏ Phạm thế và hướng đến đoạn diệt thân kiến"; vị cư sĩ nói như vậy, này Mahànàama, và với Tỷ-kheo có tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, Ta nói rằng không có gì sai biệt, tức là về phương diện giải thoát."

 

3. Làm sao để có thể làm chủ được ý hành và ý nghiệp của mình?

Để có thể làm chủ được ý nghiệp thì chúng ta phải làm chủ được ý hành (các hành động của ý). Khi làm chủ được ý hành thì chúng ta sẽ không làm những việc bất thiện khiến chúng ta phải chịu đau khổ ngay tại đời này và ở đời sau. Để làm được thì:

- Đầu tiên chúng ta phải học được kiến thức đúng đắn (chánh pháp).

- Cái thứ hai là phải có công cụ sử dụng để chúng ta thanh lọc tâm. Nếu không có công cụ này thì chúng ta không thể áp dụng nổi các kiến thức đúng đắn cho dù chúng ta đã học. Nhưng tại sao chúng ta lại cần công cụ để thanh lọc tâm thì mới có thể áp dụng, thực hành các kiến thức đúng đắn? Chúng ta hãy kiểm chứng trong thực tế: chúng ta đã học hỏi và biết rất nhiều kiến thức tốt rồi, nhưng chúng ta đã thực hành được bao nhiêu kiến thức tốt đó? Rất rất ít, đúng không? Đó là vì tâm trí của chúng ta có nhiều cấu uế, không được thanh tịnh nên không thể làm chủ được các hành vi của mình.

 

4. Kiến thức nào là kiến thức đúng đắn (chánh pháp)?

Đoạn trích sau trong [Tăng Chi Bộ kinh, CHƯƠNG III – BA PHÁP, 61.- Sở y xứ] Đức Phật dạy về Bốn Thánh Đế ("Ðây là khổ", "Ðây là khổ tập; "Ðây là khổ diệt", "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt"). Đây là pháp cao nhất của Đức Phật Gotama, chỉ được dạy cho những người có mức trí tuệ rất cao để có thể học và thực hành được đầy đủ để đạt tới đích cao nhất của trí tuệ (chánh trí), thanh tịnh. Còn với chúng ta, những người trên trái đất hiện tại, có mức độ trí tuệ rất thấp thì vẫn nên học, dù không thể hiểu hết được ý nghĩa, nhưng chúng ta vẫn nên học để biết rồi để đó nghiền ngẫm từ từ trong khi học những pháp khác ở các cấp độ thấp hơn của Đức Phật rồi thực hành (tham khảo bài viết “Đức Phật Gotama dạy cách sống giàu có” và “Đức Phật Gotama dạy cách thức để sống giàu có và hạnh phúc”) để nâng dần mức độ trí tuệ cho tới khi có thể hiểu được đầy đủ và thực hành được đầy đủ pháp này. Việc học và thực hành của chúng ta không chỉ ở toàn bộ kiếp sống này vẫn sẽ chưa đủ, mà còn sẽ tốn thêm nhiều kiếp sống sau nữa liên tục học và thực hành thì mới có thể đạt tới đích cao nhất của trí tuệ (chánh trí).

Tuy nhiên, không phải chỉ có khi đạt tới đích cao nhất của trí tuệ thì mới có lợi ích, mà khi chúng ta học và thực hành được tới đâu, thì trí tuệ của chúng ta sẽ phát triển theo tới đó, thì chúng ta sẽ nhận được nhiều lợi ích tương ứng cho cuộc sống thực tế đời thường của chúng ta. Tất cả pháp (lời dạy) của Đức Phật Gotama không hề viễn vông, mơ hồ, mà nó là thực tế cho chính trong cuộc sống hàng ngày đời thường.

“9.- Bốn thánh đế này, này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không bị uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên nào đã được nói đến? Do chấp thủ sáu giới, này các Tỷ-kheo, nên có nhập thai. Do có nhập thai, nên có danh sắc. Do duyên danh sắc, nên có sáu xứ. Do duyên sáu xứ, nên có xúc. Do duyên xúc, nên có thọ. Với người có cảm thọ, này các Tỷ-kheo, Ta nêu rõ: "Ðây là khổ", Ta nêu rõ: "Ðây là khổ tập; Ta nêu rõ: "Ðây là khổ diệt", Ta nêu rõ: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt".

10.- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ Thánh đế?

Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi, khổ, ưu, não là khổ. Ðiều mong cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Này các Tỷ-kheo, đây là Khổ Thánh đế.

11.- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ tập?

Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vầy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ tập.

12.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ diệt?

Do vô minh diệt không có tàn dư, nên các hành diệt. Do hành diệt, nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt toàn bộ của khổ uẩn này. Này các Tỷ-kheo, Ðây gọi là Thánh đế về Khổ diệt.

13.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt?

Ðây là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đế về con đường đưa đến Khổ diệt.

Bốn Thánh đế này, này các Tỷ-kheo, là pháp Ta thuyết giảng, không bị chỉ trích, không có uế nhiễm, không có tội lỗi, không bị các Sa-môn, các Bà-la-môn có trí quở trách. Ðiều đã được nói đến, chính do duyên này được nói đến.”

 

5. Công cụ nào có thể sử dụng để thanh lọc tâm?

Công cụ dùng để thanh lọc tâm (ý) mà Đức Phật Gotama dạy để giúp phát triển trí tuệ của chúng ta là phương pháp Thiền Vipassana. Phương pháp Thiền này được dạy trong toàn bộ nội dung bài kinh [Trường Bộ Kinh, bài kinh 22. KINH ĐẠI NIỆM XỨ (Mahàsatipatthana sutta)]. Do bài kinh này rất dài, nên chúng ta hãy đọc nó ở những nơi có lưu trữ bộ kinh Nikaya, hoặc có thể đọc Bài kinh dạy Thiền Vipassana của Đức Phật Gotama ở đây. Còn đoạn trích bên dưới chỉ thể hiện phần mở đầu của bài kinh:

"Tôi nghe như vậy.

1. Một thời, Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu lâu), tại Kammàssadhamma (Kiềm ma sắt đàm) - đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các vị Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo." Các Tỷ kheo trả lời Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn." Thế Tôn nói như sau:

- Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ.

Thế nào là bốn? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.

 

(Quán thân)

2. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán thân trên thân?

Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn"; Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

Này các tỷ kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay tuệ tri thiện xảo, khi quay dài, tuệ tri rằng: "Tôi quay dài"; hay khi quay ngắn, tuệ tri rằng: "Tôi quay ngắn." Cũng vậy, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo thở vô dài, tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn"; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

............. .......... ...........

............. .......... ...........

............. .......... ..........."

Tuy nhiên, vì phương pháp thiền Vipassana này giúp đưa tới đích cao nhất của trí tuệ (chánh trí), thanh tịnh, nên cũng sẽ rất khó để những người có trí tuệ thấp kém như chúng ta có thể thực hành đầy đủ. Cho nên chúng ta sẽ thực hành tuần tự từ từ, hiểu tới đâu thực hành tới đó.

Bên cạnh đó, để giúp cho việc thực hành phương pháp thiền này hiệu quả thì chúng ta có thể cần biết thêm nhiều kiến thức về tâm lý, tâm linh khác hỗ trợ. Trong các kiến thức tâm lý, tâm linh thêm này có rất nhiều kiến thức sai, nhưng chúng ta cũng nên học cho tới khi nhận ra các cái sai đó trong thực hành thì khi áp dụng pháp của Đức Phật sẽ hiệu quả hơn. Như vậy cũng tránh được sự học vẹt vô ích, rồi do không thực hành được pháp của Đức Phật, nên lại chuyển sang thờ cúng 1 cách vô nghĩa.

Ngoài ra, cũng để giúp việc thực hành phương pháp thiền Vipassana hiệu quả thì chúng ta cũng có thể sử dụng thêm 1 vài phương pháp loại bỏ cảm xúc khác nhỏ hơn nhưng hiệu quả nhanh hơn cho thời gian đầu để thanh lọc tâm, thanh lọc bớt các cảm xúc đi để tâm trí chúng ta có được sự tập trung chân chính cao hơn rồi mới bắt đầu thực hành phương pháp thiền Vipassana này.

 

6. Làm sao để kiểm tra được là chúng ta đã làm chủ được ý hành và ý nghiệp?

Đoạn trích sau đây trong [Trường Bộ Kinh, 34. KINH THẬP THƯỢNG (Dasuttara sutta), Năm pháp, (vii) Thế nào là năm pháp rất khó thể nhập?] cho phép chúng ta có thể kiểm tra được là chúng ta đã thoát ra khỏi được các bất thiện pháp chưa (tức đã làm chủ được ý hành và ý nghiệp của mình chưa):

"Năm giới hướng đến giải thoát. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên, các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, có tác ý đối với hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm. Khi vị này có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với hại tâm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sắc. Khi vị này có tác ý đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi vô sắc. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, cái nhiệt não khởi lên do duyên với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sắc.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với tự thân.

Ðó là năm pháp rất khó thể nhập."

 

~~oOo~~

Tài liệu dẫn chứng:

- Bộ kinh Nikaya, nhưng trong đó chỉ lấy những bài kinh đã được 500 vị A la hán đại đệ tử trực tiếp của Đức Phật Gotama (Thích Ca Mâu Ni) tập kết xác nhận trong lần kết tập thứ nhất ở thời điểm 3 tháng sau ngày Đức Phật Gotama qua đời. Các bài kinh này gồm tất cả các bài kinh thuộc 4 bộ: Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh và Tương Ưng Bộ kinh, riêng Tiểu Bộ kinh thì chỉ có Tiểu Bộ 1. Còn những bài kinh khác thuộc Tiểu Bộ kinh, do được thêm vào ở những khoảng thời gian rất lâu sau thời Đức Phật Gotama, nên chỉ có giá trị tham khảo. Bộ kinh Nikaya hiện nay được lưu truyền bởi chi phái Phật Giáo Nguyên Thủy (Nam Truyền, Nam Tông).

 

Phạm Nguyễn Anh Kiệt
~Sự Kỳ Diệu~

 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha